Thứ Ba, 19 tháng 10, 2010
Kinh doanh theo mạng và dư luận
Thời gian qua, tình hình hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam đã được rất nhiều sự quan tâm chú ý từ phía Bộ Thương mại, các cơ quan chức năng, dư luận báo chí, những người tham gia và cả người tiêu dùng.
Nhìn từ góc độ khách quan, có một số công ty bán hàng đa cấp đều ít nhiều có những sai phạm ở những mức độ khác nhau. Tất cả những điều này, suy cho cùng chính là kết quả tất yếu của việc chưa có quy định.
Thiết nghĩ trong bối cảnh Nghị định kinh doanh đa cấp chưa chính thức ra đời thì việc ngành nghề này có nhiều vấn đề tồn tại là điều không lấy gì làm lạ. Nếu chưa có luật quy định mà các công ty kinh doanh đa cấp làm tốt và không có bất kỳ sai phạm nào thì đó mới là điều không bình thường.Trong điều kiện dự thảo nghị định kinh doanh đa cấp trong Luật cạnh tranh đã ra đời và đang trong giai đoạn đưa vào áp dụng, vấn đề hiện nay là làm sao để mọi người bao gồm luôn cả dư luận báo chí không còn mang cách nghĩ cũng như ấn tượng không tốt về phương thức kinh doanh này như trong thời gian qua. Vì một hay nhiều công ty làm sai thì không có nghĩa là cả ngành nghề cũng sai, chưa có luật làm không tốt không có nghĩa khi có luật rồi cũng làm không tốt.
Vì vậy, để giúp cho mọi người hiểu được một cách khách quan về ngành nghề này mà không chịu sự tác động một chiều của báo giới, đồng thời có thể giúp cho cơ quan chức năng có thêm cơ sở thông tin để thuận lợi trong việc quản lý cũng như giải đáp những thắc mắc của người dân, ít nhiều giúp họ nắm bắt rõ về mô hình kinh doanh hiện đại. Trong phạm vi phần này, sẽ xoay quanh những vấn đề chủ yếu mà dư luận đề cập trong suốt thời gian qua.
CÓ PHẢI KINH DOANH ĐA CẤP LÀ PHƯƠNG THỨC KINH DOANH LỪA ĐẢO?
Phương thức kinh doanh theo mạng hay kinh doanh đa cấp (Multi – Level – Marketing), nói về phương thức này, tiến sĩ kinh tế Nguyễn Đức Trí – Đại học kinh tế TP.HCM trong phần trình bày trên có viết: “Nhu cầu về sản phẩm của khách hàng thường được hình thành tự sự tiếp xúc với các thông tin quảng cáo của nhà cung cấp. Một số lại đến tự giới thiệu của bạn bè hay người xung quanh”. Nhưng nếu thị trường phân tán trên quy mộ rộng lớn và sản phẩm chỉ có giá trị vừa phải thì lối tổ chức tiếp xúc như trên sẽ gặp khó khăn. Thứ nhất, người bán hay công ty không có đủ thời gian để tiếp xúc với tất cả mọi người. Thứ hai, chi phí tổ chức (Như phòng ốc, địa điểm, mạng lưới tiếp xúc ,…) có thể vượt xa thu nhập và sản phẩm có thể mang lại. Kinh doanh đa cấp tỏ ra đặc biệt hữu hiệu trong trường hợp này.
Thay vì dùng các địa điểm cố định, công ty nhờ nhân viên bán hàng ( thường được gọi là người phân phối) đến chủ động tiếp xúc với khách hàng.
Thay vì dùng chuyên gia, họ dùng tài liệu hướng dẫn cặn kẽ kèm theo huấn luyện về sản phẩm và nhờ vậy người phân phối nào cũng có thể hiểu và giải thích cho khách hàng được.
Thay vì trả lương, họ chia hoa hồng với người phân phối căn cứ trên doanh thu đạt được.
Thay vì cung cấp đồng nghiêp. Họ cho phép người phân phối tự tìm thêm đồng nghiệp để chủ động làm việc của mình một cách hiệu quả” .
Mô hình kinh doanh theo mạng lưới đa tầng thực chất không khác gì cơ cấu hành chính của một công ty kinh doanh truyền thống. Người chủ trong cơ cấu cơ quan hành chính truyền thống hưởng lợi nhuận trên giá trị thặng dư do người nhân viên tạo ra, nhưng người chủ thông thường là phải trả lương cho nhân viên, mô hình kinh doanh theo mạng thì cũng tương tự, thu nhập là động cơ kích thích nổ lực của mỗi thành viên và là cỗ máy vận hành của mạng lưới. Khi một thành viên tạo ra doanh thu, anh ta tạo một khoản thu nhập cho mình ( thu nhập chủ động) và một khoản khác cho các đồng nghiệp cấp trên của mình. Điều này cũng tương tự như khi làm việc cho một công ty, nhân viên tạo ra thu nhập cho mình và cho cả công ty bao gồm nhiều người.
Điều khác biệt là mỗi thành viên trong mạng lưới còn có các đồng nghiệp cấp dưới do chính mình tuyển dụng và huấn luyện. Bởi vậy khi số đồng nghiệp này tạo ra doanh thu thì cá nhân thành viên đó (thu nhập thụ động). Nếu đồng nghiệp cấp dưới càng đông thì số thu nhập này càng nhiều. Bởi vậy, các thành viên càng tuyển dụng và huấn luyện đồng nghiệp cấp dưới bao nhiêu thì thu nhập thụ động của họ càng cao bấy nhiêu, và các thành viên đều không phải trả lương cho đồng nghiệp cấp dưới.
Trên báo Pháp luật ngày 28-8-2001, Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Đức Trí trong bài phỏng vấn của phóng viên Nguyễn Tấn cũng nhấn mạnh rằng: “ Hình thức kinh doanh theo mạng đã có từ lâu trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, một số công ty Bảo hiểm cũng đang áp dụng. Người ta gọi là chiến lược đẩy – Một phương thức bán hàng rất hiệu quả. Nhà sản xuất ban đầu tuyển một số nhà phân phối có nhiệm vụ trực tiếp bán hàng, rồi từ những người sử dụng sản phẩm tuyển tiếp một số nhà phân phối khác. Mạng lưới phân phối cứ thế nhân lên cấp số nhân”.
Cũng trên báo Pháp luật ngày 28-8-2001, chuyên gia kinh tế Trần Tô Tử cho rằng: “ Bản thân phương thức kinh doanh đa cấp không hề lừa đảo, chỉ có con người mới có hành vi lừa đảo. Nếu hiểu vậy thì không chỉ kinh doanh đa cấp mới bị lạm dụng để lừa đảo mà tất cả các hình thức kinh doanh khác đều có thể bị lạm dụng. Chúng tôi cho rằng để xử lý các hành vi đó, Nhà nước đã có một thống pháp lý khá đầy đủ và chặt chẽ. Không thể chỉ dựa vào một lập luận chung cho rằng do sợ quảng cáo quá mức để cấm cách thức làm ăn cũng như vội vã kết tội doanh nghiệp như thế được”.
Để nhấn mạnh thêm điều này, Tiến sĩ Nguyễn Minh Trí- Nguyên Vụ trưởng Vụ pháp chế bộ thương mại, Phó trưởng ban soạn thảo luật cạnh tranh cũng khẳng định: “Kinh doanh theo kiểu truyền tiêu về bản chất là kinh doanh bán hàng đa cấp hay tiếp thị đa tầng, đây là hoạt động kinh doanh mới có ở Việt Nam, nhưng thế giới đã có những năm 30. Đây là hình thức kinh doanh của nền kinh tế thị trường…và chắc chắn, hình thức bán hàng đa cấp sẽ dẫn được đưa vào nề nếp để thực hiện đúng chức năng nhân chính của nó”.
Cùng với quá trình cải cách mở cửa, nền kinh tế Việt Nam cũng từng bước hội nhập với thế giới phát triển chung của nền kinh tế khu vực và thế giới, kinh doanh đa cấp được là một xu thế phát triển kinh tế tất yếu đối với các nước đang phát tiển trong gia đoạn hiện nay:
Đối với các nước phát triển để dáp ứng với nhu cầu phục vụ người tiêu dùng nền nhà máy, xưởng sản xuất ra đời, vì thế một số lượng lớn sản phẩm được xuất ra, lượng hàng này cũng cần thiết đưa dến người tiêu dùng, thế như theo cách truyền thống thì doanh nghiệp thường phải đầu tư một khoảng chi phí rất lớn cho việc thuê mặt bằng để mở phòng trưng bày, lắp đặt trang tiết bị, thuê nhân viên, chi phí điện nước …
Vì thế, cách giả quyết áp lực đó là dùng những cửa hàng di động bằng người để thay thế, hàng hóa vẫn đảm bảo được đến tay người tiêu dùng bằng con đường ngắn nhất, tốc độ nhanh nhất và tính chủ động cao nhất, đồng thời còn giảm được nhiều chi phí cho doanh nghiệp trong quá trình lưu thông hàng hóa.
Được ra đời như một nhu cầu phát triển tất yếu, được khẳng định giá trị tồn tại như một thực tế khách quan, được thừa nhận và áp dụng như một giải pháp hữu hiệu cần thiết với một nền kinh tế mở. Với cách nhìn ở góc độ chuyên môn của những nhà kinh tế học, họ rất tán đồng hoạt động kinh doanh đa cấp và khẳng định giá trị tồn tại của nó như phương thức kinh doanh hiện đại. Thế thì không biết lý do gì và định kiến nào mà thời gian qua dư luận báo chí và một số người luôn gán ghép cho nó là phương thức kinh doanh lừa đảo ?
NÂNG CAO GIÁ TRỊ SẢN PHẨM GẤP NHIỀU LẦN SO VỚI THỊ TRƯỜNG?
Trước hết cần nhấn mạnh rằng hầu hết các loại sản phẩm mà công ty kinh doanh đa cấp bán điều là các loại sản phẩm tiêu dùng có tính đặc thù và độc đáo mà không thể mô tả cặn kẽ theo phương pháp thông tin đại chúng.
Hiện nay kinh tế Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển của nền kinh tế thị trường, mà kinh tế thị trường là thuận mua vừa bán, người tiêu dùng hoàn toàn có quyền chọn lựa và quyết định mua sản phẩm hay không vì chính họ là người có nhu cầu. Không ai có thể buộc giá bán của một chiếc xe Nhật phải bằng giá của một chiếc xe Dream Trung Quốc cả dù biết rằng là cả hai loại điều có cùng phân phối như nhau, cấu trúc ngoại hình như nhau,... Tất nhiên là vì chất lượng đảm bảo, nhu cầu lại lớn, chiếc xe Nhật được bán giá cao thì dư luận chỉ trích là bán với giá “ trời ơi” …giá tăng lên gấp nhiều lần so với giá gốc (chẳng một doanh nghiệp nào có thể tồn tại khi bán sản phẩm bằng giá nhập chưa thuế !), thế nhưng khi sản phẩm của doanh nghiệp bán không được bị ế ẩm, bị thua lỗ thì có cơ quan ngôn luận hay cơ quan nhà nước nào bù lỗ cho doanh nghiệp không ?
Bản chất của nền kinh tế thì trường là lời ăn lỗ chịu, vấn đề quan trọng là người, mua chấp nhận được và tất nhiên doanh nghiệp cũng chấp nhận được. Trên thực tế, Nhà nước chỉ quản lý về giá của một số mặt hàng như dược phẩm, xăng dầu, điện, nước, cước viễn thông … Hầu hết những mặt hàng còn lại Nhà nước không quản lý giá cả mà chỉ quản lý bằng cách thu thuế đầu vào và đầu ra của nó, cho doanh nghiệp được quyền tự do định giá. Nếu đứng ở góc độ quản lý, Nhà nước suy cho cùng cũng khuyến khích doanh nghiệp bán được sản phẩm với giá cao, vì sau khi trừ chi phí Nhà nước sẽ thu thuế doanh nghiệp cao. Nhưng bán với giá cao thì người tiêu dùng lại không mua nổi, vì thế doanh nghiệp chỉ bán được với số lượng ít nên sẽ không tồn tại được lâu dài. Còn nếu bán với giá thấp hơn giá thành thì doanh nghiệp cũng thua lỗ.
Từ đây có thể thấy rằng việc quyết định giá cả của các sản phẩm trên thị trường không phải doanh nghiệp muốn bán bao nhiêu thì bán mà giá cả phụ thuộc rất nhiều số vào yếu tố sức mua của người tiêu dùng, nhu cầu của tình hình thị trường, các khoản chi phí dịch vụ và các khoản thuế đóng nộp cho nhà nước.
Nếu cho rằng sản phẩm nâng cao giá cao hơn so với thị trường thì bắt buộc phải có một đối tượng so sánh cụ thế (giống nhau hoàn toàn về chủng loại, quy cách, công dụng, nhãn hiệu nhưng giá lại cao thấp khác nhau) chứ không thể lập luận chung chung cho rằng giá cao hơn nhiều lần so với gái gốc ( tức giá nhập chưa thuế) để rồi phủ định thì không hợp lý.
Nếu sản phẩm bán với giá cao mà người tiêu dùng chấp nhận, thị trường có nhu cầu thì chỉ có thể khẳng định là sản phẩm đó hoặc là có chất lượng tốt, hoặc là phương pháp tiếp cận thị trường hiệu quả, hoặc là có chế độ trả thưởng hợp lý, hoặc là có hệ thống phục vụ hậu mãi chu đáo…
Tất cả những điều đó là những yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại, khả năng cạnh tranh và tiềm lực phát triển của doanh nghiệp. Nếu như nhà nước đã không có quy định về giá bán sản phẩm của doanh nghiệp thì dư luận thiết nghĩ cũng không nên can thiệp vấn đề này.
Còn nếu dư luận cho rằng việc doanh nghiệp nâng cao giá để rồi trả hoa hồng cao để bán sản phẩm thì không hợp lý, ví dụ như tôi đưa cho một người nào đó một bao thuốc 555 với giá 15.000 đ nhờ anh ta đem bán ra ngoài bán với giá 45.000đ ( hoặc cao hơn thế nữa), sau đó chỉ cần gửi lại cho tôi 15.000đ, còn 30.000đ còn lại dùng làm hoa hồng cho anh ta, thử hỏi liệu người đó có bán được với giá như thế không? Liệu có người nào chịu mua không? Vấn đề ở chỗ là sản phẩm đó tính năng công dụng thực tế như thế nào, mọi người có nhu cầu hay không ? Chứ phải đâu là nâng giá cao hơn thực tế rồi dùng số tiền nâng lên làm hoa hồng cao trả cho người bán là có thể bán được sản phẩm?
KINH DOANH ĐA CẤP KHÔNG CÓ LỢI CHO NỀN KINH TẾ VÀ TỔN HẠI CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG?
Theo tiến sĩ Nguyễn Đức Trí: “ Hình thức này giúp công ty nhân rộng nhanh chóng mạng lưới tiếp thị mà không chịu gánh nặng về quỹ lương cho nhân viên. Thay vào đó, họ đầu tư phục vụ công tác huấn luyện kỹ năng và chuyển giao kiến thức sản phẩm thường xuyên cho người phân phối.
Đối với xã hội, phương thức này mở rộng cơ hội làm việc cho nhiều người. Người tham gia kinh doanh đa cấp có thể làm công tác này ngoài giờ mà không gây ảnh hưởng đến công tác chính của họ. Những người chưa có việc làm hay hiện là nội trợ cũng có thể tham gia kiếm thêm thu nhập. Kinh doanh đa cấp cũng dễ dàng thâm nhập vào các vùng sau vùng xa mà các phương pháp tiếp thị thông thường không vươn tới. Nhờ vào các hoạt động huấn luyện thường xuyên, nó giúp nâng cao trình độ và tạo thêm việc làm cho người dân”.
Với những sản phẩm tiêu dùng nhu cầu cao đều được các cơ quan chức năng có liên quan chứng nhận chất lượng, công ty áp dụng phương thức phân phối đa tầng. Khách hàng đến công ty tìm hiểu những sản phẩm mà bản thân hoặc gia đình có nhu cầu sử dụng, sau quá trình tìm hiểu thử nghiệm miễn phí, xác định được hiệu quả sản phẩm rồi thì họ mua về sử dụng, những người tiêu dùng nào muốn tham gia mạng lưới thì đăng ký học nghiệp vụ để tham gia phát triển mạng lưới phân phối, nếu không có thời gian hoặc không có nhu cầu thì chỉ sử dụng sản phẩm.
Người phân phối ngoài việc có sản phẩm sử dụng, họ còn có quyền quảng cáo giới thiệu sản phẩm cho người thân, bạn bè, khách hàng của mình. Khi việc giới thiệu thành công, họ sẽ được chia hoa hồng, hoa hồng này được tiết kiệm lại từ chi phí gia tăng trung gian và quảng cáo. Vì việc quảng cáo này dựa trên việc sử dụng nên tính trung thực và thực tế rất cao bởi không ai có thể bán rẻ chữ tín của mình. Giới thiệu nhiều thì hưởng nhiều, giới thiệu ít thì hưởng ít, không giới thiệu thì không hưởng - một sân chơi rất công bằng và hợp lý.
Tất nhiên, khi mạng lưới hình thành và phát triển thì những người cấp trên cũng sẽ được bù đắp lại công sức lao động của mình bằng khoản hoa hồng huấn luyện đào tạo và quản lý mạng lưới.
Quan trọng là cho dù không giới thiệu hoặc không giới thiệu được thì người kinh doanh – người tiêu dùng ở đây vẫn không bị thiệt hại. Vì như là một lần tiêu dùng mà thôi, một sản phẩm có thể phục vụ thiết thực cho sinh hoạt hàng ngày với giá trị tương đương số tiền họ bỏ ra mua nó để sử dụng. Chính người tiêu dùng là người có lợi ích nhiều hơn: vừa có sản phẩm sử dụng, vừa có thu nhập. Các cô chú lớn tuổi sử dụng sản phẩm sử dụng có được sức khoẻ, tiện lợi cho sinh hoạt, tiết kiệm được nhiều thời gian, mỗi tháng lại có vài trăm thu nhập, công nhân viên của các công ty xí nghiệp ngoài công việc chính còn có cơ hội làm thêm, có thêm sự đảm bảo, sinh viên có điều kiện làm thêm xoay sở chi phí ăn học giảm gánh nặng gia đình, nông dân nhân lúc rảnh rỗi của ngày mùa có thể kiếm thêm, người bình thường có thể tham gia làm tăng thêm thu nhập….. Tất cả đều bằng sức lao động chân chính của họ. Đấy chính là nguyên nhân tại sao hiện nay có hằng trăm ngàn người ở khắp các tỉnh miền Nam, miền Trung và miền Bắc đều tán đồng với phương thức kinh doanh hiện đại và mới mẻ này.
Có một bài báo viết vào tháng 6 năm 2003: “Hàng tỉ đồng hoa hồng người tham gia mạng lưới được hưởng chi là một phần nhỏ … phần lớn còn lại các ông chủ đã khôn khéo vơ vào túi riêng và đem ra khỏi Việt Nam …..” Đọc qua bài viết này không ít người lập tức nghĩ rằng đây là một hình thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản, một con đường chạy tiền ra nước ngoài. Nhưng trên thực tế thì vấn đề được xem xét lại...
Bối cảnh Việt Nam hiện đang trong thời kỳ mở cửa hội nhập, nổ lực của các nhà lãnh đạo là làm sao có thể thu hút được nhiều nhà đầu tư từ nước ngoài, tạo mọi điều kiện thông thoáng về hành lang pháp lý, cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn lao động, cung cấp các dịch vụ tốt nhất để kêu gọi đầu tư. Thử hỏi, nhà đầu tư nước ngoài đem tiền, thiết bị công nghệ, sản phẩm của họ đến Việt Nam chỉ để đầu tư hoặc để bán chứ không được mang lợi nhuận về thì có lẽ những nỗ lực thu hút đầu tư của chính phủ cũng chỉ là vô ích và càng không cần thiết phải mở cửa giao lưu hội nhập để làm gì.
Tại sao không nghĩ là việc đầu tư để mang lại lợi nhuận là hợp lý đối với bất kỳ lĩnh vực nào? Họ đầu tư hàng tỷ đồng thì họ đem về lợi nhuận cho bản thân thì có gì là không hợp lý? Vấn đề quan trọng là họ đã làm tốt nghĩa vụ thuế cho nhà nước, họ đã đóng thuế nhập khẩu, họ làm đúng theo quy định của pháp luật hiện hành về đầu tư nước ngoài, họ đã cung cấp sản phẩm chất lượng tốt phục vụ cho nhu cầu Việt Nam, họ huấn luyện đào tạo tính chuyên nghiệp cho nhân công, họ tạo cơ hội việc làm cho lao động Việt Nam, góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế đất nước …Nếu chỉ thấy họ là những người vơ vét vào túi riêng mà không thấy lợi ích họ đem đến cho đất nước thì làm sao có thể chấp nhận được?
Dù cải cách đã gần hai thập kỷ qua nhưng những tư tưởng khép kín, bảo thủ tương tự vẫn chưa thực sự chấm dứt trong cách nghĩ của nhiều người. Như thế chẳng phải cố ý bóp méo sự thật làm người đọc hiểu sai về tầm quan trọng cũng như nhu cầu bức thiết của việc thu hút đầu tư nước ngoài đang được xem là một trong những vấn đề mang tính chiến lược kinh tế của quốc gia hay sao?
TUYÊN TRUYỀN QUÁ SỰ THẬT VỀ CÔNG NĂNG SẢN PHẨM VÀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI THAM GIA?
Bản chất của quảng cáo hay tiếp thị là quá trình thực hiện mặt tốt của một sản phẩm hay một sự việc. Kinh doanh đa cấp phần lớn dựa vào nguyên lý truyền khẩu và chia sẻ cảm nhận qua quá trình sử dụng thực tế sản phẩm cho những người xung quanh bao gồm người thân, bạn bè và những người quen biết. Việc tuyên truyền quá sự thật về công năng và thu nhập của người tham gia khách quan mà nói không phải là không có nhưng nó chỉ là một phần rất ít vì nó đi ngược với nguyên lý của ngành nghề này.
Trong giai đoạn hiện nay, ý thức tiêu dùng và trình độ của mọi người đã có sự nâng cao rất rõ. Nếu một người nói một sản phẩm trị bách bệnh hoặc không cần làm gì mà mỗi tháng vẫn thu nhập trên hàng chục triệu đồng thì chắc chắn một điều rằng một đứa trẻ cũng không tin vào điều đó. Nói đúng hơn khi tuyên truyền như thế thì chính họ là người làm tổn hại uy tín cho chính mình. Chính vì vậy, dù là người tiêu dùng đơn thuần hay là người kinh doanh bán hàng họ đều nghĩ đến vấn đề này. Ngoài ra, còn có sự phán đoán của người mua chứ không phải muốn nói ra sao thì nói và cũng không phải nói ra sao người ta cũng mua.
Riêng về phía công ty kinh doanh đa cấp thông thường có những quy định nội bộ về việc xử lý những trường hợp tuyên truyền quá mức về công năng sản phẩm và thu nhập thông qua các hình thức cảnh cáo, chấm dứt hợp đồng hợp tác hoặc nghiêm trọng hơn sẽ truy tố trước pháp luật.
Suy cho cùng, mục đích của việc bán hàng là muốn bán được nhanh, nhiều, giá có lời… Nhưng không phải chỉ lạm dụng việc khuếch trương quá mức sản phẩm hoặc dịch vụ là có thể thành công, tất nhiên không ai lại nói xấu sản phẩm hay dịch vụ của chính mình, vấn đề là ở chỗ nó ở mức chấp nhận được.
NGƯỜI THAM GIA ĐỀU LÀ NHỮNG NGƯỜI TRÌNH ĐỘ THẤP, THIẾU HIỂU BIẾT, LAO ĐỘNG NGHÈO, SINH VIÊN, NGƯỜI THẤT NGHIỆP?
Dư luận thường xuyên chỉ trích những người đến với ngành nghề kinh doanh đa cấp phần chỉ là “giới trẻ, sinh viên, người lao động nghèo, thất nghiệp, nông dân, bà con vùng sâu…”.
Trên thực tế hiện nay nguồn lao động nước ta, còn trong tình trạng phổ thông khá phổ biến, riêng lực lượng lao động trình độ cao hiện vẫn còn hạn chế. Vấn đề đặt ra hiện nay là trong điều kiện nền kinh tế đang chuyển mình để hội nhập còn thiếu lực lượng lao động kỹ thuật cao, chưa đáp ứng đủ cho các nhu cầu hiện nay.
Trong khi giới trẻ, sinh viên, công nhân, lao động phổ thông, người thất nghiệp, trình độ thấp, nông dân nghèo đang là gánh nặng cho xã hội, vấn đề giải quyết việc làm cho họ chính là một áp lực không nhỏ đối với các nhà lãnh đạo và các cơ quan hữu quan. Họ có thể đến các công ty kinh doanh đa cấp để làm thêm hay làm chuyên nghiệp tạo thêm thu nhập cho bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm áp lực gia đình và xã hội … Tất cả những điều đó đều là không có lợi cho xã hội hay sao? Lẽ nào không thấy được là những người như trên mới thật sự cần thiết và thích hợp với một công việc như thế này?
DƯ LUẬN CHO RẰNG: ‘KHÁCH HÀNG PHẢI MẤT NHIỀU TRIỆU ĐỒNG ĐỂ MUA SẢN PHẨM ĐEM VỀ MẶC DÙ KHÔNG CÓ NHU CẦU SỬ DỤNG”, “VAY MƯỢN TIỀN, GOM GÓP TIỀN ĐỂ THAM GIA…”?
Phải thấy rõ một điều là đối tượng khách hàng của các công ty kinh doanh đa cấp đều thuộc ba nhóm sau:
Thứ nhất, là những người chỉ đơn thuần có nhu cầu sử dụng sản phẩm, những người này mua sản phẩm chỉ để sử dụng, tuy nhiên, nếu họ có hứng thú với việc giúp công ty quảng cáo thì họ vẫn có quyền làm nười phân phối, còn nếu không thì công ty cũng không ép được họ.
Thứ hai, họ là những người vừa có nhu cầu sử dụng sản phẩm lại có nhu cầu làm người phân phối, tất nhiên họ là những người có lợi nhiều nhất.
Thứ ba, họ là những người không có nhu cầu về việc sử dụng sản phẩm nhưng lại có nhu cầu làm người phân phối mở rộng mạng lưới tiêu thụ, họ dùng sản phẩm như một công cụ cho việc mở rộng mạng lưới, họ có thể cho người nhà, bạn bè, khách hàng mình sử dụng sản phẩm để họ thấy được hiệu quả của sản phẩm một cách thực tế để từ đó họ sẽ có nhu cầu mua sản phẩm để sử dụng.
Và lẽ tất nhiên, mọi đối tượng trên đầu có quyền tìm hiểu và quyết định cho mình. Họ đều biết rõ hơn ai hết họ có nhu cầu như thế nào. Thiết nghĩ không ai lại bỏ tiền túi ra để làm một điều vô bổ hoặc để mua một sản phẩm không chất lượng trong khi ý thức tiêu dùng ngày càng cao như hiện nay.
Còn nếu đặt vấn đề rằng tại sao người ta không có nhu cầu sử dụng vẫn phải mua sản phẩm khi muốn tham gia làm người phân phối vấn đề cũng có liên quan đến nhu cầu kiếm tiền của họ. Trong kinh doanh, một người khi muốn trở thành một đại lý phân phối sản phẩm cho một công ty bất kỳ nào đó thì chưa hẳn họ đã có nhu cầu sử dụng sản phẩm đó, thậm chí họ còn không sử trong suốt thời gian dài kinh doanh của mình. Nhưng vì họ muốn có được lợi nhuận từ việc hưởng hoa hồng đại lý nên họ vẫn phải bỏ ra hàng chục, hoặc có lúc hàng trăm triệu đồng để mua sản phẩm về làm hàng mẫu, hàng dự trữ hoặc thế chân cho công ty cung ứng, đó là quy luật dùng tiền kiếm tiền rất phổ biến hiện nay.
Bất kỳ một sản phẩm hay một sự việc ra đời nó chỉ có thể phục vụ cho nhu cầu của một tầng cấp nhất định nào đó trở nên mà thôi chứ không thể nào cùng một lúc đáp ứng cho nhu cầu của mọi tầng cấp trong xã hội. Nếu muốn làm đại lý mà không thỏa mãn những điều kiện trên thì việc có được những khoản lợi nhuận cao là điều không thể được. Nếu chỉ làm công mà muốn có thu nhập như một người chủ thì không hợp lý.
Riêng về việc để có tiền tiêu dùng nhiều người phải vay mượn đó là sự tự nguyện, là cách khắc phục khó khăn của từng người khi họ có nhu cầu, lẽ nào đây cũng là vần đề bất hợp lý cần thiết phải công kích ? Chẳng lẽ việc một người dân mượn tiền để tiêu dùng, một sinh viên vay tiền để đóng học phí hoặc một doanh nghiệp vay tiền để đầu tư kinh doanh khi có nhu cầu là không hợp lý? Phải thực sự khách quan xem rằng họ bỏ ra cái gì và có được cái gì sau đó chứ?
Còn nếu cho rằng người tham gia vì vay mượn tiền để rồi làm không được bị thất bại, nợ nần chồng chất… để rồi sau đó cho rằng bị lừa đảo thì cũng không đúng. Vì trong quá trình kinh doanh bất kỳ một lĩnh vực nào thì việc thành công hay thất bại phụ thuộc rất nhiều vào khả năng phán đoán và sự nỗ lực của mỗi người, chính họ biết rõ hơn ai hết điều kiện của mình có phù hợp hay không, năng lực của mình có làm được hay không nhu cầu của mình có thật sự cần thiết làm hay không … và chính họ là những người có đủ thời gian tìm hiểu, suy nghĩ và có quyền đưa ra quyết định cho riêng mình. Vì vậy thiết nghĩ kết quả của việc kinh doanh thành công hay thất bại chính họ phải là người trực tiếp chịu trách nhiệm chứ không thể nào đổ tội cho ngành nghề, cho hoàn cảnh, cho công ty họ tham gia.
Lẽ nào những người nông dân bị thiệt hại nặng nề qua dịch cúm gà vừa qua đều cho rằng mình cũng bị lừa đảo?
Có nhiều người vay hàng trăm triệu đồng để đầu tư nuôi tôm sú nhưng kết quả là tôm chết, phải bán ruộng bán nhà để trả nợ, thế ai là người lừa đảo họ?
Nhiều nhà kinh doanh vay ngân hàng hàng tỷ đồng để mở công ty, do làm ăn thua lỗ nên phải phá sản và ngồi tù … Có ai trong họ cho rằng chính ngành nghề mà họ kinh doanh đã lừa họ hay không?
Kinh doanh bao giờ cũng tồn tại rủi ro trong đó, tuy nhiên ai là người có thể giảm thiểu được mức rủi ro xuống mức thấp nhất, người đó sẽ có cơ hội thành công cao nhất.
PHƯƠNG THỨC KINH DOANH “NGƯỜI ĐẾN SAU NUÔI NGƯỜI ĐẾN TRƯỚC,… KHI THỊ TRƯỜNG BÃO HÒA, THÌ CẢ CÔNG TY VÀ CỘNG TÁC VIÊN ĐỀU RƠI VÀO CẢNH “THẰN LẰN CẮN ĐUÔI NHAU MÀ ĂN…”
Có dư luận cho rằng kinh doanh đa cấp thực chất chỉ là hình thức” móc túi lấy tiền lẫn nhau… người trước móc túi người sau, người sau móc túi người sau nữa”.
Trên thực tế, xét về bản chất, thương trường là ”móc túi lấy tiền lẫn nhau”. Tuy nhiên phải hiểu đúng vấn đề của nó, phải hiểu là: Tôi đưa cho anh cái anh cần và lấy về cái tôi cần. Đó là tính chất cơ bản của việc mua bán, tất nhiên hoàn toàn dựa trên sự thỏa thuận của hai bên. Ở đây tồn tại hai mặt của một vấn đề : Nếu xét ở góc độ tích cực thì phải nói là: “Người đến trước giúp đỡ người đến sau, người đến sau giúp đỡ người đến sau nữa…”. Công việc hướng dẫn, huấn luyện đào tạo cũng phải mất nhiều thời gian và công sức, chứ không bao giờ tồn tại cái gọi là “ngồi mát ăn bát vàng” như dư luận thường đề cập.
Nếu không hiểu như thế thì tất cả mọi hoạt động sinh lời hiện nay đều xem là “móc túi”, và cứ như thế thì tôi sẽ nói là: “Phóng viên móc túi tòa soạn, tòa soạn móc túi bạn đọc? Việc kiến lập mạng lưới cũng phải có quá trình hình thành qua thời gian dài hay ngắn tùy thuộc vào năng lực và sự đầu tư công sức, tiền bạc của từng người, chứ không phải vào tham gia một tháng hai tháng là có thể thành công thu nhập hàng chục triệu được.
Tất nhiên, khi nhìn nhận vấn đề phải thấy được mặt tích cực của nó. Dư luận lên tiếng rằng người tiêu dùng tham gia vào các công ty kinh doanh đa cấp phải chịu cảnh “ tiền mất tật mang” với lập luận là có những người nào, người nào đó làm bị thất bại, không kiếm được tiền nên lên tiếng phản ánh và cho rằng mình bị công ty lừa đảo. Thiết nghĩ, nếu báo giới khách quan sẽ tìm hiểu thật chính xác xem là công ty sai, ngành nghề sai hay khách hàng sai hoặc người tham gia hoạt động phân phối sai. Bất kỳ một ngành nghề nào cũng có người thất bại.
Nếu tất cả mọi người tham gia đều thất bại cả thì ngành nghề sẽ không thể tồn tại được. Còn nếu như cùng một ngành nghề , có người thành công có người thất bại thì bản thân người thất bại đó phải xem lại chính mình. Đứng ở góc độ là người đại diện cho tiếng nói của quần chúng, báo chí phải thực sự khách quan, phải xem xét ở hai mặt lợi hại của vấn đề, phải biết so sánh tỷ lệ thất bại và thành công là bao nhiêu, không nên vì một số ít người tiêu cực không chịu bỏ công sức nên bị thất bại mà làm ảnh hưởng đến hàng chục nghìn người khác.
Một cái ly mẻ nếu đổi một góc nhìn khác thì ta thấy nó vẫn lành. Có bao giờ dư luận biết một cách cụ thể rằng hiện đã có bao nhiêu ngàn người vì có sản phẩm của các công ty kinh doanh đa cấp mà họ đã có được sự an toàn, tiện lợi và khỏe mạnh hơn trong cuộc sống, vì chịu khó học hỏi mà có được thu nhập và cải thiện đáng kể hơn về chất lượng cuộc đời?
Thậm chí, ngay cả việc cho rằng “Đến một lúc nào đó, thị trường bão hòa thì cả công ty kinh doanh đa cấp và người tham gia đều rơi vào cảnh “thằn lằn cắn đuôi nhau mà sống …?”.
Suy cho cùng, vẫn là sự đả kích mang tính cá nhân tự phát mà không hề biết về quy luật kinh tế cũng như chiến lược kinh doanh lâu dài của các công ty. Thị trường có bão hòa không? Câu trả lời là không :
Thứ nhất, sản phẩm giới hạn về tuổi thọ nhưng nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng là liên tục.
Thứ hai, công ty sẽ có kế hoạch đa dạng hóa sản phẩm, sản phẩm mới đưa ra thì cả thị trường là sẽ hoàn toàn mới hết. Người kinh doanh chỉ cần tiêu dùng một lần nhưng lại có quyền tiêu thụ bất kỳ sản phẩm nào khác của công ty. Nếu người kinh doanh thấy tự thân có nhu cầu tiêu dùng thêm sản phẩm của công ty hay còn gọi là tiêu dùng trùng lặp thì sẽ được hoa hồng trùng lặp.
Công ty sẽ có kế hoạch điều tiết thị trường bằng cách đa dạng hóa sản phẩm, cho nên việc cho rằng thị trường bão hòa là hoàn toàn không có cơ sở mà chỉ là suy diễn cá nhân, mang tính phủ nhận vấn đề mà thôi.
Quy luật kinh doanh luôn có người cuối cùng, nhưng nếu ai cũng sợ mình là người cuối cùng thì họ sẽ chẳng bao giờ dám kinh doanh. Riêng trong kinh doanh đa cấp cũng không nằm ngoài quy luật đó, tuy có điều cho dù họ có là người cuối cùng đi chăng nữa thì họ cũng không bị thiệt, vì trong tay họ còn có một sản phẩm để sử dụng tương đương với số tiền họ bỏ ra, vấn đề là họ kiếm thêm được nhiều hay ít tiền mà thôi, điều đó phụ thuộc vào công sức họ bỏ ra...
(Bài viết gửi Ban soạn thảo Nghị định giám sát Bán hàng đa cấp tháng 2-2004)


19:36
Unknown

Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét